Microsoft mang tới một loạt công nghệ mới, từ ảo hóa, lưu trữ cho đến nhiều tính năng an toàn và nâng cấp cửa cho nguồn mở. Windows Server 2016 chính thức xuất hiện từ hồi tháng 9 năm ngoái, nhưng tới nay, chúng ta mới sở hữu được chiếc nhìn toàn vẹn và chuyên sâu về hệ điều hành máy chủ mới nhất này của Microsoft.
Điều mà giới chuyên môn tìm thấy được ở hệ điều hành và quản lý này là đó là hệ quản lý nhiều tham vọng, sở hữu nhiều yếu tố, và chú trọng nhiều vào hiệu suất bên trong hệ sinh thái của Microsoft, đấy là Windows, Hyper-V và Azure. Nhưng ko chỉ có vậy, Windows Server 2016 cũng cho thấy phấn đấu phụ thuộc các sáng kiến và công đoạn nguồn mở, như Docker.

Và việc khai triển Windows Server 2016(http://hostcanhan.com/) cũng khiến người quản lý phải lừng khừng nhiều điều, cũng cần lên kế hoạch cụ thể hơn. Windows Server 2016 có hai chọn lựa về giấy phép, Datacenter hoặc Standard. Cũng có ba chọn lựa khi cài đặt, gồm: phiên bản GUI máy chủ thường ngày, phiên bản no GUI, và rốt cuộc là máy chủ Nano.Một điều để ý khác là các CPU 64-bit cũ lại ko tương trợ kiến trúc ảo hóa Hyper-V của Microsoft. Điều đó sở hữu tức là các máy chủ cũ như Dell 1950 ko tương thích với Hyper-V, hay như HP 560 Gen4 sở hữu 16 nhân bộ xử lý ko "chơi được" với Windows Server 2016.
Ở giấy phép đắt đỏ nhất là Datacenter, user sở hữu được mọi tiêu chí phục vụ hệ thống (role) và đặc điểm tốt nhất. Những role này gồm: Storage Spaces Direct, Shielded Virtual Machines/Host Guardian Service, Storage Replica (dịch vụ đồng bộ hồi phục sau thảm họa và coppy ảnh lưu trữ), và Network Controller (cho đám mây Azure).
mức giá tổng cộng cho bản Standard và Datacenter bằng tầm giá phần mềm máy chủ cộng thêm các giấy phép truy vấn của máy khách (CAL, client access licenses). Giá cũng rất khác nhau, giữa giá niêm yết, giá OEM, giấy phép cho doanh nghiệp, cho giáo dục và một số tùy mua khác. Ngoài ra, cũng sở hữu phiên bản Essentials Server tránh, sử dụng được cho tối đa 25 người và 50 dòng thiết bị, dựa trên số bộ xử lý thay vì số nhân, và giấy phép này không cần CAL.
Trong bài viết này, các bạn sẽ xét qua một số tính năng mới và cải tiến mới của Windows Server 2016, vì có một số tiêu chí đúng như quảng cáo, nhưng một số lại không.

Hệ điều hành Windows Server 2016 của Microsoft có nhiều tính năng ưu việt mà những hệ điều hành máy chủ khác không có.
Windows Nano Server đúng như tên gọi của nó, là được mẫu mã dành cho DevOps và tối thiểu hóa kernel API. Rất gọn nhẹ, máy ảo này chiếm dung lượng ít hơn 200MB và theo Microsoft thì nó hoàn toản để chạy ứng dụng.Tùy chọn máy chủ Nano Server
Cách duy nhất tạo Nano Server là từ dòng lệnh PowerShell. Nano Server chạy theo định dạng file vhdx, và tại thời khắc viết bài, nó chưa hỗ trợ hypervisor, mà mới chỉ tương trợ Hyper-V.
Nano Server có khả năng xài với Hyper-V, Storage, Cluster và máy chủ web IIS, Dot-Net và nhân ASP-NET, rốt cục là chạy được với bộ cất container. Hầu hết chức năng này user phải mua trong quá trình cài đặt ban đầu, và về sau chẳng thể chỉnh lại.
Nano Server cũng sở hữu vài hạn chế: tuy hỗ trợ phần mềm, những dụng cụ và agent 64-bit nhưng nó lại chẳng thể làm bộ điều khiển domain Active Directory được. Nano không làm policy cho group được, không thể dùng nó như máy chủ proxy được, tương tự như chẳng thể chạy Systems Center Configuration Manager và Data Protection Manager. Nano cũng bị hạn chế vận hành trong thư viện lệnh của PowerShell.
Nhưng những tránh này có thể khắc phục bằng các giải pháp bù đắp khác mà Windows Server 2016 mang đến từ các framework điều hành và quản lý và khai triển dựa trên nguồn mở. Như OpenStack hỗ trợ cho Nano, thậm chí VMware vSphere cũng hỗ trợ Nano.
Nano được cấp phép dựa trên hoặc là role của máy chủ Datacenter hoặc role của máy chủ Standard, tức là khả năng gộp chung thành máy chủ DNS hoặc máy chủ IIS. Điều đó siêu một thể cho nhiều trường hợp phần mềm.
Ảo hóa lồng nhau (nested virtualization)
Windows Server 2016 hỗ trợ ảo hóa chính nó. Nhắc cách khác, VM bên trong VM. Hiện giờ, chỉ Hyper-V bên trong Hyper-V là được Microsoft chính thức hỗ trợ, nhưng chúng ta cũng có khả năng sở hữu được mô hình Hyper-V chạy bên dưới vSphere 6.
những mô dường như vậy bây chừ tương đối hiếm nhưng sẽ rất có ích trường hợp bạn muốn chạy các bộ cất Hyper-V thay vì chạy bộ chứa trực tiếp trên host hoặc chạy cho môi trường vững mạnh ứng dụng với mục đích thể nghiệm.
Để bật tiêu chí “lồng nhau” (nesting) trong một máy ảo HyperV, bạn cần đặt cờ (flag) thông qua PowerShell,
Set-VMProcessor -VMName test-server-core -ExposeVirtualizationExtensions $true
và cần fake địa chỉ IP MAC
Get-VMNetworkAdapter -VMName test-server-core | Set-VMNetworkAdapter -MacAddressSpoofing On
các bạn khả năng chạy những bộ chứa cũng giống như những VM Windows Server 2016 khác trong một máy chủ Nested. Quy mô này triển khai dễ dàng hơn trước và tiện lợi cho nhà phát triển hơn vì ko can thiệp đến kiến trúc chung của hệ thống.
Còn giả dụ bạn muốn thử chạy Windows Server 2016 bên trong vSphere 6.0, ban đầu bạn cần có lập một VM Windows Server 2016 trong ESX. Sở hữu một thiết lập kích hoạt kỹ năng này trong thuộc tính của VM. Sau ấy, bạn cài HyperV trong VM để có thể cài một VM Windows Server Nested khác.
Tính phức tạp của VM Nested ko quá mức như các bạn hình dong, và một VM Nested cũng ko ngốn không ít tài nguyên hệ thống.

yếu tố sao lưu luôn có sẵn để bảo vệ dữ liệu san sớt, nhằm đảm bảo tỉ lệ dữ liệu bị mất bằng 0 sau khi khởi chạy máy ảo bất kỳ.
Máy ảo được bảo vệ (Shielded VM)
Một cách để đảm bảo an toàn dữ liệu cho máy ảo là mã hóa chúng. Windows Server 2016 cho phép tạo máy ảo được bảo vệ (Shielded Virtual Machine), là máy ảo được mã hóa, có thể quản lý chung với máy ảo không mã hóa thường nhật. Nhưng để tạo được máy ảo Shielded, hệ thống vật lý cần phải có chipset TPM.
Máy ảo Shielded được mã hóa bằng kỹ thuật BitLocker và chỉ tương trợ cho VM Windows. Nhưng ko may là máy ảo Shielded chỉ sở hữu trên phiên bản Server 2016 Datacenter mà thôi, không có trong bản Standard.
Đây cũng là điều buộc phải đánh đổi. Ví dụ như chỉ sở hữu một cách để kết nối được với máy ảo Shielded, là qua RDP, buộc phải bạn không thể kết nối với máy ảo Shielded thông qua dòng lệnh hay bằng bất kỳ phương tiện nào khác. Do vậy, trường hợp máy ảo của bạn bị mất kết nối, bạn hoàn toàn không đụng gì được tới nó trừ lúc bạn cần phải thiết lập một dụng cụ biệt lập nào ấy để vào được máy ảo Shielded.
Host Guardian Service
tương tác tới máy ảo được mã hóa là Host Guuardian Service (HGS). Các nhà cung ứng bên thứ ba đưa ra SSO, định danh và những dịch vụ điều hành và quản lý khóa cho máy chủ Windows và những môi trường máy khách, còn với Host Guardian, Microsoft đưa ra dịch vụ nhỏ lẻ của họ.
HGS có hai thứ: bảo vệ khóa để lưu trữ và cung cấp khóa BitLocker cho máy ảo Shielded, và chứng nhận cho phép chỉ có host Hyper-V được tin cậy mới khả năng chạy VM Shielded.
dịch vụ mà chúng tôi đã đề cập yêu cầu phải chạy trong môi trường hệ Active Directory riêng. Hệ Active Directory sẽ được tạo lúc hệ thống cài đặt role này auto.
sở hữu hai hình thức xác thực dành cho HGS. Đầu tiên là sử dụng chuẩn xác dựa trên TPM, đòi hỏi phần cứng phải có chip TPM 2.0 được kích hoạt và được cấu hình, cũng tương tự UEFI bản 2.3.1+ với secure boot. Máy chủ Shielded sẽ được xác nhận dựa trên định danh TPM của chúng.
cơ chế thứ hai là công nhận qua quyền admin. Cách này tương trợ nhiều dạng phần cứng hơn khi mà hệ thống không sở hữu tương trợ TPM 2.0. Chế độ này cũng ít rắc rối về cấu hình hơn. Ở chế độ này, máy ảo được chính xác dựa trên quyền thành viên trong một nhóm bảo mật AD domain Services nào ấy.
Microsoft khuyến cáo một Host Guardian Fabric có thể được thiết lập trên một cụm cluster 3 máy vật lý, nhưng cũng có khả năng cài đặt trên máy ảo cho mục đích thể nghiệm. Nếu bạn sử dụng Azure hay System Center Virtual Machine Manager thì việc thiết lập HGS hay guarded host thuận lợi hơn.
Cũng chú ý rằng ví như ko triển khai HGS được vì lý do nào đó thì máy ảo Shielded trên guarded host sẽ ko chạy.
Bộ cất Windows
rốt cục, bộ cất cũng "đổ bộ" lên Windows Server 2016, xài Docker và những thành phần Docker (cũng có khả năng sử dụng những phương án khác). Bộ cất trực tiếp trên Windows Server 2016 có tên là Windows Server Containers. Một bộ đựng khác xuất hiện thông qua Hyper-V là dạng mode/sandbox riêng biệt, gọi là bộ cất Hyper-V.
chế độ tách biệt HyperV yêu cầu role HyperV cài đặt trên máy chủ, sau đó chúng ta có thể khởi chạy bộ cất này xài các lệnh Docker, tỉ dụ như:
docker run --isolation=hyperv microsoft/nanoserver
Windows Server 2016 không cho thuê Docker cần phải bạn bắt buộc cài đặt Docker riêng. Và hiện nay, sở hữu vài lỗi khi chạy Docker ở cơ chế PowerShell từ xa. Điều đó siêu khó chịu và cũng rất khó điều chỉnh. Giới công nghệ chờ bản update tiếp theo của Microsoft để sửa lại lỗi này.

Thứ tới, số lượng bộ đựng cho Windows sở hữu tỉ lệ rất nhỏ so với nền Linux. Ở thời khắc biên tập, tỉ lệ này là 100:1 giữa Linux và Windows.Đầu tiên, bạn chẳng thể dùng những bộ đựng Linux trừ lúc chúng được xây dựng chuyên để chạy trong ngữ cảnh cụ thể nào đó. Sau đấy, các nhà vững mạnh đưa ra hai tập bộ chứa: tập đầu là chạy trên Linux hoặc bất kỳ đâu khác, tập thứ hai là chuyên chạy cho Windows.
Điều thứ ba là lệnh PowerShell dành để điều hành và quản lý bộ chứa còn khan hi hữu, buộc nhà quản lý bắt buộc sử dụng Docker cho dù Docker cần phải chạy tách riêng. Microsoft cũng không đưa ra một môi trường Windows thống nhất để điều hành và quản lý bộ đựng chung.
rốt cục, khi thí điểm vài lần với cả những bản cập nhật mới nhất, người thử nghiệm vẫn thường gặp gỡ trục trệu và ko mấy tự tín, ngay cả trên nhân Server lẫn nhân Nano.
Nhưng điều chưa lý giải được là những máy ảo chạy cực kỳ mượt mà trên bất kỳ host vật lý nào ko dùng HyperV.
Một thực tiễn khác là bây giờ, tài liệu về bộ chứa Docker vẫn còn cực kỳ khan hi hữu trong Windows Server 2016 và cả nhiều nguồn khác trên mạng.
hỗ trợ UEFI Linux trong Hyper-V
Linux chạy với VM thế hệ thứ 2 hiện nay khả năng dùng tùy chọn Secure Boot/UEFI, là một đặc tả chức năng mới trong EUFI. Secure boot cũng được áp dụng cho máy ảo Windows trong các phiên bản Hyper-V trước đây, nhưng lại tương đối rối rắm về quyền admin và bộ cài đặt giả dụ bạn muốn sử dụng với những bản cung ứng Linux.
Nhưng nay, cài đặt UEFI với Ubuntu 16.04 nền Hyper-V khá thuận tiện. Secure boot còn tương trợ các bản Redhat Enterprise Linux 7.0+, SUSE Enterprise Server 12+, Ubuntu 14.04+ và Centos 7.0+. Các máy ảo Linux cần phải cấu hình một thành phần để sử dụng MS UEFI Certificate Authority trong mục VM Settings, bạn cũng khả năng kích hoạt yếu tố này bằng dòng lệnh PowerShell.
PowerShell Direct
PowerShell Direct cho phép những lệnh PowerShell áp dụng cho máy ảo VM chi tiết nào đó mà không cần bất kỳ kết nối mạng nào, dựa vào mối tác động giữa Hyper-V và các máy ảo của nó. Chức năng này cũng chỉ sở hữu hiệu lực với host sở hữu các máy ảo chi tiết và chỉ vận dụng được cho máy ảo không bật Shielded.
Nhà quản lý cũng được kể gõ vào thông tin công nhận và trường hợp bạn không đăng nhập với account thuộc nhóm quản lý Hyper-V, bạn cũng chẳng thể sử dụng PowerShell Direct.
đến nay, chức năng này chỉ tương trợ các hệ điều hành và quản lý là Windows 10 và Windows Server 2016. Cả máy host lẫn máy khách đều sở hữu cùng yêu cầu cấu hình. PowerShell Direct khả năng là dụng cụ hữu dụng để tạo script hay truy cập một máy ảo nào ấy bị mất kết nối mạng, nhưng chức năng này vẫn còn hỗ trợ quá ít hệ quản lý, và trường hợp xài PowerShell Direct còn khá eo hẹp.
tính năng này cũng khả năng là 1 kẽ hở bảo mật ví như thông tin đăng nhập host Hyper-V bị mất, Chính vì khi ấy bạn siêu khó liên lạc được với máy ảo qua những cách bình thường khác.
Cập nhật lưu trữ
yếu tố sao lưu luôn có sẵn để bảo vệ dữ liệu chia sẻ, nhằm đảm bảo tỉ lệ dữ liệu bị mất bằng 0 sau lúc khởi chạy máy ảo bất kỳ. Để tận dụng tiêu chí này, nhà quản trị cần có lập nhiều cụm cluster ở nhiều địa điểm vật lý tách rời nhau. Mục tiêu của sao lưu lưu trữ này là backup sau thảm họa giữa các địa điểm cách xa nhau, và cho phép xài nhiều trọng điểm dữ liệu hiệu suất cao hơn. Chức năng này cũng hỗ trợ khả năng đồng nhất dữ liệu bảo vệ với tỉ lệ thất thoát bằng 0 (theo tài liệu của Microsoft công bố). Cũng vậy, chức năng này cũng cho phép sao lưu dị đồng bộ đối với các hệ thống mạng có độ trễ cao hay khoảng cách địa lý xa. Hệ thống liên tiếp sao lưu, ko dựa vào ảnh snapshot/checkpoint. Yếu tố này bổ ích cho các Công ty đa nhà nước.
Chính sách lưu trữ QoS
Chính sách QoS trong Server 2016 (chỉ sở hữu trong bản Datacenter) có khả năng áp dụng cho 2 nếu, và cả hai đều tác động tới Hyper-V và mọi máy chủ phải chạy Server 2016. Cách đầu là xài chính sách QoS với 1 máy chủ Scale-out File và cách còn lại là dùng Cluster Shared Volumes.
các chính sách này được kích hoạt cố định trên Cluster Shared Volumes và bạn chẳng phải làm gì đặc biệt để can thiệp tới chúng. Ngoài ra, biên tập những chính sách này lại giúp bạn nâng cao được tốc độ lưu trữ của máy chủ. Vài tùy chọn hơi hữu ích như theo dõi tốc độ lưu trữ và quản lý tải I/O trên mỗi workload lưu trữ. Ví dụ, bạn có khả năng thiết lập IOP tối thiểu và tối đa trên mỗi VHD (tạo chính sách riêng). Hoặc bạn có thể tạo một chính sách chia sẻ giữa những VHD.
Storage Spaces Direct (S2D)
Storage Spaces Direct là một phần của công nghệ clustering trong Windows Server 2016. S2D xài cho máy chủ chạy bản Windows Server 2016 Datacenter, sở hữu lưu trữ (như JBOD) để tạo lưu trữ dựa trên ứng dụng, xài SMB3, gom những hệ thống file và tự sửa các lỗi về lưu trữ. Lưu trữ bắt buộc được gom lại, xài chức năng Failover Role và hệ thống file clustering của hệ thống.
đòi hỏi hệ thống cho S2D khá cao: cần 128GB RAM, hai ổ SSD và ít ra 4 ổ HDD cấu hình ở non-RAID, cộng với 1 ổ HDD bổ sung là ổ cứng khởi động. Cũng vậy, bạn cần chí ít hai máy chủ để tạo thành một cụm cluster. Hệ thống cũng đề xuất mỗi máy cần có cổng mạng 10GBE.
giả dụ đã đáp ứng được những yêu cầu cấu hình này, chúng ta có khả năng thiết lập những tier lưu trữ khác nhau, mà nhất định trường hợp sở hữu ổ SSD và HDD, S2D sẽ tự động tạo tier về tốc độ và dung lượng cho lưu trữ lai (hybrid).
Chức năng Failover cho clustering cải tiến hơn
sở hữu nhiều cải tiến siêu đáng nhận xét về chức năng Failover clustering trong Windows Server 2016. Một trong những chức năng thú vị nhất là cluster Operating System Rolling tăng cấp. Ví như bạn đã sở hữu vài node cluster Windows Server 2012 R2, bạn khả năng nâng cấp lên cluster Windows Server 2016 mà không phải ngừng Hyper-V hay các vận chuyển Scale-out File Server. Một tiêu chí thú vị khác là sử dụng Cloud Witness cho quorum witness (Failover logic), dùng Azure để lưu đĩa witness. Một cải tiến khác cũng siêu thú vị là tiêu chí thăng bằng tải máy ảo, vì tiêu chí này cực kỳ ích lợi để đánh giá xem node nào đang quản lý nhiều và máy móc tự động chuyển những máy ảo đang chạy sang node khác.
Windows 2016 Security bổ sung Credential Guard
Trong các bản Windows trước, các khóa đăng nhập và khóa secret được đặt trong Local Security Authority (LSA). Còn nay, với yếu tố Credential Guard mới, các dữ liệu thúc đẩy tới LSA được bảo vệ bằng một lớp bảo mật nền ảo hóa. Do vậy, Credential Guard chống được các kiểu tiến công như bẻ được hash hay vượt được ticket. Tiêu chí này thực hành bằng cách tách lập những khóa secret, như hash mật mã NTLM và ticket Kerberos để cấp quyền cho những ticket khác, do vậy chỉ sở hữu ứng dụng hệ thống được cấp quyền mới truy vấn được các khóa này.

Microsoft muốn tiếp cận với cộng đồng Linux biểu đạt rõ rệt trong hệ vận hành Windows Server 2016 này.
các khóa domain name do các dịch vụ Windows điều hành và quản lý cũng được chạy dưới môi trường ảo hóa bảo đảm. Phần còn lại của hệ vận hành chẳng thể truy vấn vào được môi trường này. Tính năng này có thể quản lý thông qua chính sách nhóm, WMI, PowerShell hay thậm chí command prompt thông thường và cũng làm việc với Windows 10 (Enterprise hay Education) và Windows Enterprise IoT. Ngoài ra, để có yếu tố Credential Guard cũng đòi hỏi vài yêu cầu phần cứng căn bản, như: CPU 64-bit, những extention ảo hóa CPU (Intel VT-x hoặc AMD-V) và SLAT, TPM 1.2 hay 2.0, EUFI 2.31.c+ với Secure Boot.

Cách độc nhất tạo Nano Server là từ dòng lệnh PowerShell.
Just Enough Admin (JEA)
JEA là bộ bảo đảm nền PowerShell (từ phiên bản 5 trở lên), có thể tránh quyền của admin chỉ để họ đủ quyền làm việc mà thôi. Nó cho phép người dùng cấp quyền chi tiết cho một tập lệnh chi tiết nào đấy trên máy từ xa khi đăng nhập. Yếu tố này sở hữu trên Windows 10, Server 2016 và các hệ điều hành và quản lý cũ trường hợp sở hữu bản cập nhật Windows Management Framework. JEA phối hợp admin Just In thời gian xuất hiện lần đầu trong Server 2012 R2 và một phần của Microsoft Identity Manager, cho phép nhà quản lý giảm thiểu quyền quản lý về time lẫn kĩ năng chạy các lệnh hệ thống.
Network Controller (SDN - Software defined networking)
Network Controller là dụng cụ bổ sung, giúp nhà quản lý có thêm cách tiếp cận với chức năng điều hành và quản lý mạng. Nó cho thuê 2 API. Một cho Network Controller giao thiệp với mạng và API còn lại cho khách hàng liên lạc trực tiếp với Network Controller. Role Network Controller khả năng chạy ở cả môi trường tên miền hoặc ko tên miền.
Network Controller khả năng quản trị bằng SCVMM hay SCOM. Role Network Controller cho bạn cấu hình, theo dõi, lập trình hay tinh chỉnh kiến trúc hệ thống do SCVMM hay SCOM vận hành. Tuy thế, không bắt buộc xài các công cụ này vì chúng ta cũng khả năng xài các lệnh PowerShell hay REST API thay thế.
Network Controller làm việc với các phần khác nhau trên kiến trúc mạng, như máy ảo Hyper-V và những bộ chuyển mạch ảo, tường lửa trung tâm dữ liệu, gateway RAS và những cân bằng vận chuyển nền ứng dụng.
Tường lửa trọng tâm dữ liệu
Tường lửa cho trọng tâm dữ liệu (data center) là dạng tường lửa phân tán mới, dựa trên luồng dữ liệu mạng và ứng dụng kết nối thay vì workload. Ví dụ, nếu bạn di dời một máy ảo từ một máy chủ đến một máy chủ khác trong cùng trung tâm dữ liệu thì nó bắt buộc tự động đổi thay các rule tường lửa trên máy chủ khác, để cho phép cổng kết nối nào được phép mở, cấu hình lại bộ định tuyến và bộ chuyển mạch cho máy ảo ấy. Tường lửa cũng cho thuê kỹ năng bảo vệ cho các máy ảo độc lập trên hệ điều hành khách. Ko yêu cầu phải cấu hình tách biệt một tường lửa cho từng máy ảo riêng rẻ.
công cụ điều hành và quản lý máy ảo như vậy cũng là yếu tố mà VMware đã lớn mạnh nhằm nâng cao tính linh động cho máy ảo, giúp giảm tải tối thiểu cho người quản trị hệ thống.
Tổng kết
bài viết chưa liệt kê được hết các điểm sáng và tối của Windows Server 2016 nhưng còn tùy vào từng môi trường, từng trường hợp và chiến lược triển khai hệ thống của nhà quản lý thì mới kiểm tra được xác thực giá trị của Windows Server 2016. Nhưng nhìn chung, hệ vận hành này hiện có nhiều yếu tố siêu tốt, vài trong số đó cực tốt và vài tiêu chí hoàn toàn không sở hữu trong mặt hàng của đối thủ cạnh tranh, có thể giúp những nhà phát triển thay đổi cả chiến lược khai triển hệ thống.
Windows Server 2016 cũng sở hữu nhiều tiêu chí cải thiện hơn, nhất là tìm mọi cách mà Microsoft muốn tiếp cận với cộng đồng Linux cho thấy rõ rệt trong hệ vận hành này. Bài post có đề cập một số tiêu chí hướng đến Linux nhưng ko phải đa số. Vài tiêu chí đòi hỏi tới phần cứng chi tiết hay thiết lập cụ thể.